Trong bối cảnh văn hóa ngày càng trở thành nguồn lực nội sinh và động lực của phát triển bền vững, di sản không chỉ là những giá trị quá khứ cần bảo tồn mà còn là nguồn lực sáng tạo cho hiện tại và động lực phát triển cho tương lai. Quan điểm này phù hợp với Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025, trong đó nhấn mạnh việc chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ tạo giá trị kinh tế, sức hấp dẫn xã hội và sức mạnh mềm. Đối với thành phố Đồng Nai, đây là thời điểm cần chuyển từ tư duy “bảo tồn di sản” sang “bảo tồn để phát triển, phát triển để tạo nguồn lực cho bảo tồn”; từ khai thác riêng lẻ từng di sản sang hình thành hệ sinh thái văn hóa - sáng tạo - du lịch; từ “có di sản để tham quan” sang “có câu chuyện để trải nghiệm và có sản phẩm để tiêu dùng”.
1. Đánh thức nguồn lực di sản cho công nghiệp văn hóa Đồng Nai
Lợi thế của Đồng Nai không chỉ nằm ở số lượng mà còn ở sự đa dạng, tính liên tục và khả năng kết nối giữa các loại hình di sản. Các giá trị văn hóa tạo thành một chỉnh thể phản ánh quá trình hình thành vùng đất, cộng đồng và bản sắc Đồng Nai. Toàn thành phố hiện có 121 di tích được xếp hạng, gồm 6 di tích quốc gia đặc biệt, 42 di tích quốc gia và 73 di tích cấp tỉnh. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển du lịch văn hóa, giáo dục lịch sử, trải nghiệm cộng đồng và các sản phẩm sáng tạo. Các di tích danh thắng và không gian văn hóa cộng đồng... không chỉ có giá trị tự thân mà còn có thể cung cấp chất liệu cho điện ảnh, xuất bản, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, thiết kế, nhiếp ảnh, quảng cáo, nội dung số, giáo dục và du lịch văn hóa. Nếu di sản vật thể giúp nhận diện những dấu mốc, nhân vật và không gian lịch sử thì di sản phi vật thể tạo nên “phần hồn” của văn hóa Đồng Nai. Đờn ca tài tử, bóng rỗi; lễ hội Sayangva của người Chơ Ro; lễ hội Kỳ yên; các nghề thủ công, tập quán, tri thức và văn hóa của cộng đồng Việt, Hoa, Chơ Ro, Mạ, X’tiêng, M’nông, Tày, Nùng, Khmer... là nguồn chất liệu phong phú cho biểu diễn, lễ hội chuyên đề, trải nghiệm, thời trang, thiết kế, ẩm thực, quà tặng và truyền thông hiện đại.
Di sản tư liệu như sắc phong, bản đồ, hình ảnh, thư tịch, tài liệu hành chính, mộc bản, hồ sơ lưu trữ và các bộ sưu tập hiện vật là “dữ liệu gốc” để nghiên cứu, nhận diện và kể lại lịch sử vùng đất. Nếu được số hóa, hệ thống hóa và khai thác hợp lý, nguồn tư liệu này có thể trở thành nguyên liệu cho xuất bản, phim tài liệu, triển lãm tương tác, bảo tàng số, podcast, bản đồ lịch sử, giáo dục và nội dung số. Làng nghề, nghề thủ công và văn hóa ẩm thực cũng có khả năng chuyển hóa trực tiếp thành sản phẩm. Gốm Biên Hòa - Đồng Nai là ví dụ tiêu biểu cho sự kết nối giữa di sản, nghệ nhân, thiết kế đương đại, sản xuất, quà tặng và du lịch trải nghiệm. Tương tự, món ăn, sản vật và câu chuyện đời sống cộng đồng có thể phát triển thành sản phẩm du lịch, OCOP, quà tặng văn hóa và thương hiệu địa phương.
Như vậy, Đồng Nai không thiếu tài nguyên để phát triển công nghiệp văn hóa. Vấn đề cốt lõi là chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm có sức hấp dẫn, có thị trường, tạo giá trị gia tăng nhưng vẫn bảo đảm tính chân thực, toàn vẹn và sức sống của di sản.
2. Những điểm nghẽn trong phát huy di sản
Thời gian qua, công tác kiểm kê, xếp hạng, tu bổ, tôn tạo di tích; duy trì lễ hội; nghiên cứu khoa học; hoạt động bảo tàng, trưng bày; bảo tồn di sản phi vật thể và chuyển đổi số đã được quan tâm. Du lịch cũng từng bước đưa nhiều di sản vào tuyến, điểm và sản phẩm trải nghiệm. Các không gian văn hóa như Văn miếu Trấn Biên, Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Chùa Ông (Thất Phủ cổ miếu), các làng nghề truyền thống, các khu danh thắng, Vườn Quốc gia và nhiều không gian văn hóa khác góp phần tạo diện mạo du lịch văn hóa địa phương. Thực tiễn cho thấy, khi di sản được kết nối với du lịch, ẩm thực, lưu trú, hướng dẫn, mua sắm và trải nghiệm cộng đồng, giá trị văn hóa có thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế, tạo sinh kế và nguồn lực trở lại phục vụ bảo tồn. Tuy nhiên, trong việc đưa di sản vào phát triển các ngành sáng tạo, vẫn còn một số điểm cần được điều chỉnh để việc khai thác trở nên phong phú và hấp dẫn hơn:
Có di tích được bảo tồn tốt nhưng thiếu sản phẩm trải nghiệm; lễ hội giàu ý nghĩa nhưng mới dừng ở sinh hoạt cộng đồng; bảo tàng có hiện vật quý nhưng cách giới thiệu chưa cuốn hút; làng nghề có sản phẩm nhưng chưa gắn kết chặt chẽ với tour du lịch.
Di sản hoàn toàn có thể trở thành nguồn cảm hứng cho điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, thời trang, trò chơi giáo dục hay nội dung số, nhưng sự kết nối với văn hóa và du lịch vẫn chưa được khai thác mạnh mẽ.
Dữ liệu về di tích, hiện vật, lễ hội, nghệ nhân còn phân tán; cần có cơ sở dữ liệu chung, bảo tàng số, thuyết minh đa ngôn ngữ và nền tảng trải nghiệm trực tuyến.
Phát triển sản phẩm từ di sản đòi hỏi đội ngũ vừa am hiểu lịch sử, vừa có khả năng kể chuyện, thiết kế, truyền thông, công nghệ và quản trị thị trường, trong khi nguồn nhân lực hiện nay còn thiếu và chưa đồng đều.
Quá tải khách, thương mại hóa, trùng tu sai nguyên tắc, ô nhiễm hoặc làm mất đi giá trị truyền thống có thể xảy ra nếu khai thác thiếu kiểm soát. Điều quan trọng là khai thác tinh tế hơn, có trách nhiệm và hướng tới sự bền vững.
Vì vậy, điều quan trọng không phải là khai thác nhiều hơn, mà là khai thác tinh tế hơn, có trách nhiệm và hướng tới sự bền vững, để di sản vừa được gìn giữ, vừa trở thành nguồn cảm hứng cho sáng tạo và phát triển.
3. Kiến tạo hệ sinh thái di sản - sáng tạo - thị trường
Để di sản trở thành nguồn lực cho công nghiệp văn hóa, Đồng Nai cần xây dựng chiến lược dài hạn theo quan điểm: Bảo tồn là nền tảng, cộng đồng là chủ thể, sáng tạo là phương thức, thị trường là động lực, công nghệ là công cụ, phát triển bền vững là mục tiêu. Trên cơ sở đó, cần thiết phải triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp:
Thứ nhất, xây dựng Đề án tổng thể phát huy giá trị di sản phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa. Trước mắt, nghiên cứu Đề án giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng bộ với định hướng quốc gia. Đề án cần tổng kiểm kê, đánh giá, phân loại nguồn lực di sản; xây dựng bản đồ tài sản văn hóa; xác định giá trị, mức độ bảo tồn, khả năng khai thác, thị trường và tiềm năng sản phẩm. Lựa chọn một số di sản hạt nhân để tập trung đầu tư, có hồ sơ riêng về giá trị, câu chuyện, công chúng, sản phẩm, hạ tầng, xã hội hóa và bảo tồn.
Thứ hai, hình thành các cụm và tuyến du lịch văn hóa chuyên đề. Chuyển từ mô hình “mỗi di tích là một điểm đến” sang khai thác theo không gian và câu chuyện lịch sử, như “Dấu ấn Trấn Biên”, “Hành trình di sản khảo cổ”, “Theo dấu các nhân vật lịch sử Đồng Nai”, “Con đường gốm Biên Hòa”, “Hành trình văn hóa sông Đồng Nai”, “Hành trình ẩm thực và làng nghề Đồng Nai”… Mỗi tuyến cần có câu chuyện xuyên suốt, kết hợp trải nghiệm, ẩm thực, mua sắm, lưu trú, biểu diễn và quà tặng, qua đó kéo dài thời gian lưu trú, tăng chi tiêu và mở rộng số lượng chủ thể hưởng lợi.
Thứ ba, biến di sản thành sản phẩm trải nghiệm và sản phẩm sáng tạo. Phát triển kể chuyện lịch sử, tái hiện không gian văn hóa, tour chuyên đề, nghệ thuật và giáo dục trải nghiệm; đổi mới bảo tàng bằng triển lãm tương tác, chương trình cho học sinh, gia đình, trải nghiệm khảo cổ và khám phá hiện vật; tại làng nghề, tổ chức cho du khách trực tiếp tham gia sản xuất. Với gốm Biên Hòa, có thể xây dựng chuỗi trải nghiệm từ tìm hiểu lịch sử, xem nghệ nhân trình diễn đến tự thiết kế sản phẩm. Nguyên tắc là: Mỗi di sản - một câu chuyện; mỗi câu chuyện - nhiều sản phẩm.
Thứ tư, biến di sản thành nguồn chất liệu cho công nghiệp sáng tạo. Tổ chức cuộc thi, trại sáng tác, “creative lab” và chương trình kết nối nghệ sĩ, nhà thiết kế, doanh nghiệp với kho di sản địa phương. Những câu chuyện về vùng đất Trấn Biên - Biên Hòa - Đồng Nai, quá trình khai phá phương Nam, nhân vật lịch sử, cộng đồng, làng nghề, lễ hội, kiến trúc và khảo cổ có thể trở thành chất liệu cho phim, hoạt hình, truyện tranh, sách, trò chơi giáo dục, podcast và sản phẩm giải trí. Di sản vì thế vừa là điểm đến, vừa là nguyên liệu đầu vào của chuỗi giá trị sáng tạo.
Thứ năm, xây dựng hệ sinh thái số về di sản Đồng Nai. Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về di tích, hiện vật, tư liệu, lễ hội, nghệ nhân, nghề truyền thống, nhân vật lịch sử và không gian văn hóa; phát triển bản đồ số, nền tảng du lịch di sản, thuyết minh đa ngôn ngữ, tour trực tuyến, triển lãm số và ứng dụng 3D, AR, VR, AI. Kho dữ liệu phục vụ đồng thời nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo, gắn với cơ chế bảo vệ bản quyền, quyền sở hữu và quyền của cộng đồng.
Thứ sáu, xây dựng thương hiệu văn hóa và thương hiệu di sản Đồng Nai. Chuyển từ “có di sản để tham quan” sang “có câu chuyện để trải nghiệm, sản phẩm để tiêu dùng và thương hiệu để lan tỏa”. Mỗi di sản tiêu biểu cần có câu chuyện thương hiệu, bộ nhận diện và hệ thống sản phẩm riêng. Gốm Biên Hòa gắn với thiết kế đương đại; Văn miếu Trấn Biên phát huy giá trị hiếu học, văn hóa và lịch sử; di tích khảo cổ phát triển sản phẩm giáo dục, du lịch; lễ hội, nghệ thuật dân gian, văn hóa các dân tộc và ẩm thực trở thành trải nghiệm đặc trưng.
Thứ bảy, xây dựng cơ chế để cộng đồng trở thành chủ thể và người hưởng lợi. Hỗ trợ nghệ nhân, người thực hành và câu lạc bộ văn hóa dân gian trong truyền dạy, biểu diễn và tham gia chuỗi sản phẩm; kết nối nghệ nhân với nhà thiết kế, doanh nghiệp và thị trường để tạo sản phẩm mới nhưng giữ “gen văn hóa” địa phương. Khai thác văn hóa các dân tộc thiểu số phải tôn trọng tri thức truyền thống và quyền cộng đồng, tránh sân khấu hóa, thương mại hóa làm biến dạng bản sắc. Khi di sản tạo sinh kế và thu nhập chính đáng, cộng đồng sẽ trở thành lực lượng quan trọng trong bảo tồn và truyền trao.
Thứ tám, huy động nguồn lực xã hội và phát triển hợp tác công - tư. Ngân sách nhà nước tập trung cho điều tra, nghiên cứu, kiểm kê, tu bổ, số hóa, cơ sở dữ liệu, đào tạo và bảo tồn các giá trị có nguy cơ mai một; đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào sản phẩm, dịch vụ văn hóa, không gian sáng tạo, bảo tàng tư nhân, trung tâm trải nghiệm, sản phẩm lưu niệm và chương trình nghệ thuật. Nghiên cứu cơ chế tái đầu tư một phần nguồn thu từ khai thác di sản cho bảo tồn, bảo đảm công khai, minh bạch. Mục tiêu là hình thành “vòng tuần hoàn kinh tế của di sản”: Bảo tồn tốt - tạo sản phẩm tốt - thu hút công chúng - tạo doanh thu - tái đầu tư cho bảo tồn.
Thứ chín, phát triển nguồn nhân lực liên ngành. Đào tạo đội ngũ quản lý di sản, hướng dẫn viên, thuyết minh viên, nghệ nhân, doanh nghiệp và cộng đồng về kể chuyện di sản, thiết kế trải nghiệm, truyền thông số, xây dựng thương hiệu, marketing và kinh doanh sản phẩm văn hóa. Tăng cường hợp tác với trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, nhà thiết kế, nghệ sĩ, nhà làm phim và lực lượng sáng tạo trẻ để đưa phương thức tiếp cận mới vào khai thác di sản.
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 mở ra không gian phát triển mới cho các địa phương. Với Đồng Nai, lợi thế không chỉ nằm ở số lượng di sản mà quan trọng hơn là khả năng kết nối di sản với các ngành công nghiệp sáng tạo để hình thành chuỗi giá trị: Di sản - dữ liệu và câu chuyện - sáng tạo - sản phẩm văn hóa - truyền thông và thị trường - du lịch và tiêu dùng - doanh thu - tái đầu tư cho bảo tồn.
Trong chuỗi giá trị đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, quy hoạch, hạ tầng và chính sách; ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch bảo đảm tính khoa học, xác thực, toàn vẹn của di sản và đưa giá trị di sản ra thị trường thông qua sản phẩm, trải nghiệm; doanh nghiệp đầu tư, sản xuất và phát triển thị trường; văn nghệ sĩ, nhà thiết kế và lực lượng sáng tạo chuyển hóa chất liệu truyền thống thành sản phẩm mới; cộng đồng lưu giữ, thực hành, truyền trao và hưởng lợi.
Đồng Nai cần sớm xây dựng chiến lược thống nhất, dài hạn, trong đó các chủ thể cùng tham gia để khắc phục tình trạng “có tài nguyên nhưng thiếu sản phẩm, có di sản nhưng thiếu thị trường”, đồng thời hình thành mô hình phát triển trong đó giá trị kinh tế và văn hóa bổ trợ cho nhau. Nếu thực hiện tốt, di sản Đồng Nai sẽ không chỉ là địa điểm tham quan hay những giá trị được lưu giữ trong bảo tàng, mà trở thành câu chuyện, trải nghiệm, thương hiệu, sản phẩm và nguồn cảm hứng sáng tạo; góp phần hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa mang bản sắc Đồng Nai, nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch, tạo sinh kế cho cộng đồng và đóng góp vào mục tiêu phát triển thành phố văn minh, hiện đại, giàu bản sắc và bền vững.
Với bề dày lịch sử hơn 325 năm, hệ thống di sản phong phú và vị thế mới trong tiến trình phát triển vùng, Đồng Nai có đầy đủ điều kiện xây dựng mô hình công nghiệp văn hóa mang dấu ấn riêng. Điều quan trọng là biến “kho tài nguyên văn hóa” thành “nguồn lực phát triển”, “di sản” thành “chất liệu sáng tạo”, “câu chuyện địa phương” thành “sản phẩm có thị trường”, đồng thời bảo đảm lợi ích từ khai thác quay trở lại phục vụ cộng đồng và bảo tồn. Khi đó, di sản văn hóa Đồng Nai sẽ không chỉ là ký ức của quá khứ mà trở thành tài sản của hiện tại và nguồn lực cho tương lai; không chỉ được gìn giữ mà còn được sáng tạo, lan tỏa và tạo ra những giá trị mới, góp phần đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực phát triển mới của thành phố Đồng Nai
Đến năm 2026 thành phố Đồng Nai có 11 di sản văn hóa phi vật thể: Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ; Nghi lễ và trò chơi kéo co; Lễ giỗ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh; Lễ hội Chùa Ông; Lễ hội Sayangva của người Chơ Ro; Kỹ thuật chế biến rượu cần của người X’tiêng; Lễ hội Dua Tpeng (Phá Bàu) của người Khmer; Lễ hội Cầu bông của người Kinh; Nghề dệt thổ cẩm của người M’nông; Nghề đan gùi của người X’tiêng; Nghề dệt thổ cẩm của người X’tiêng; Tập quá giã gạo chày tay của người X'tiêng, người M’nông; Lễ hội Miếu Bà Rá.
Tác giả: Trần Kiệt – QLVH
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập